DANH SÁCH NGÂN HÀNG 100% VỐN NƯỚC NGOÀI ĐƯỢC THÀNH LẬP TẠI VIỆT NAM

Ngân hàng 100% vốn nước ngoài được thành lập tại Việt Nam và được sở hữu bởi 100% vốn đầu tư nước ngoài mà trong đó yêu cầu có một ngân hàng mẹ – ngân hàng nước ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ. Ngân hàng 100% vốn nước ngoài là ngân hàng thương mại được thành lập với một trong các hình thức Công ty TNHH một thành viên hoặc từ hai thành viên trở lên, có trụ sở chính tại Việt Nam.

Tính đến năm 2026 thì hiện tại có 10 ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài đã và đang được cấp phép hoạt động tại Việt Nam. Mời bạn cùng Siglaw tìm hiểu chi tiết các hoạt động được cấp phép & danh sách các ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam trong bài viết này:

Các hoạt động được cấp phép của ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Danh sách ngân hàng 100% vốn nước ngoài [Mới nhất 2026]

Hoạt động nhận tiền gửi và huy động nguồn vốn

Nhận tiền gửi là nghiệp vụ cốt lõi, tạo nền tảng vốn cho các hoạt động ngân hàng. Ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam được phép nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân dưới nhiều hình thức: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác theo thỏa thuận.

Để chủ động khai thác vốn trung và dài hạn, các ngân hàng này được quyền phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và trái phiếu để huy động vốn trong nước và quốc tế, đảm bảo tuân thủ quy định về an toàn vốn và thanh khoản của Ngân hàng Nhà nước.

Nghiệp vụ cấp tín dụng và tài trợ vốn

Cấp tín dụng là hoạt động mang lại doanh thu chính cho ngân hàng thương mại. Theo Luật Các tổ chức tín dụng 2024, ngân hàng 100% vốn nước ngoài được phép thực hiện các hình thức cấp tín dụng đa dạng:

  • Cho vay: Cung cấp khoản vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn bằng VNĐ và ngoại tệ cho đầu tư, sản xuất kinh doanh và tiêu dùng cá nhân.
  • Chiết khấu và tái chiết khấu: Mua lại có kỳ hạn hoặc mua đứt các công cụ chuyển nhượng, séc, hối phiếu và giấy tờ có giá khác trước hạn thanh toán.
  • Bảo lãnh ngân hàng: Cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên đó không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết.
  • Phát hành thẻ tín dụng: Cung cấp thẻ cho phép chủ thẻ chi tiêu trước và hoàn trả sau trong phạm vi hạn mức tín dụng được duyệt.
  • Bao thanh toán (Factoring): Mua lại các khoản phải thu phát sinh từ hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong nước và quốc tế.
  • Thư tín dụng (L/C): Phát hành, xác nhận, thương lượng thanh toán và hoàn trả thư tín dụng hỗ trợ thương mại quốc tế.

Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản (A2A)

Ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài được phép cung cấp dịch vụ thanh toán A2A gồm:

  • Thanh toán trong nước: Séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, dịch vụ thu hộ và chi hộ.
  • Thanh toán quốc tế: Sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản, các ngân hàng này được kết nối trực tiếp với hệ thống thanh toán toàn cầu (như SWIFT) để thực hiện chuyển tiền quốc tế và cung cấp giải pháp thanh toán biên mậu ưu việt.

Giao dịch ngoại hối, sản phẩm phái sinh và hoạt động trên thị trường tiền tệ

Kinh doanh ngoại hối là mảng truyền thống và hiệu quả cao của khối ngân hàng ngoại. Các ngân hàng 100% vốn nước ngoài được phép:

  • Mua bán ngoại tệ: Ngoại tệ tiền mặt và ngoại tệ chuyển khoản trên thị trường trong nước và quốc tế.
  • Sản phẩm phái sinh: Cung cấp hợp đồng kỳ hạn (Forwards), hợp đồng hoán đổi (Swaps), hợp đồng tương lai (Futures) và hợp đồng quyền chọn (Options) liên quan đến ngoại hối, lãi suất, tiền tệ và tài sản tài chính khác, giúp doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro tỷ giá và lãi suất.
  • Thị trường tiền tệ liên ngân hàng: Thực hiện gửi tiền, nhận tiền gửi, vay vốn, cho vay và giao dịch mua bán có kỳ hạn các giấy tờ có giá (Repo) với các tổ chức tín dụng khác tại Việt Nam.

Xem thêm: Đăng ký giao dịch ngoại hối: Hồ sơ & Thủ tục

Hoạt động kinh doanh và dịch vụ tài chính khác

Ngân hàng 100% vốn nước ngoài được cấp phép kinh doanh dịch vụ tài chính như:

  • Tư vấn tài chính, cấu trúc doanh nghiệp và bảo lãnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp.
  • Đại lý cung ứng dịch vụ bảo hiểm (Bancassurance): Liên kết với các tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn.
  • Thực hiện nghiệp vụ môi giới tiền tệ trên thị trường liên ngân hàng.
  • Mua bán vàng trên thị trường nội địa theo giấy phép đặc thù của NHNN.
  • Dịch vụ quản lý tiền mặt, lưu ký chứng khoán, bảo quản tài sản và cho thuê tủ két an toàn phục vụ tập đoàn đa quốc gia và khách hàng cao cấp.

Cơ chế đặc thù tại Trung tâm Tài chính Quốc tế (VIFC)

Đối với ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoạt động trong VIFC theo Nghị quyết 222/2025/QH15, Nghị định 324/2025/NĐ-CP và Nghị định 329/2025/NĐ-CP, các cơ chế đặc thù bao gồm:

Áp dụng chính sách quản trị tài chính, an toàn vốn của ngân hàng mẹ: Bao gồm chuẩn mực kế toán quốc tế IAS/IFRS, cơ chế phân loại nợ và trích lập rủi ro theo thông lệ quốc tế.

Giao dịch hoàn toàn bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi: Toàn bộ hoạt động nội bộ tại VIFC được thực hiện bằng ngoại tệ, đảm bảo tự do hóa dòng vốn đầu tư quốc tế.

Hệ sinh thái tài chính tiên tiến: Tiệm cận các mô hình hàng đầu thế giới như Singapore, Hồng Kông, Dubai.

Danh sách 10 ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam

Trải qua nhiều giai đoạn tái cơ cấu và thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam đã chứng kiến sự lớn mạnh vượt bậc của các định chế tài chính quốc tế. Bước sang năm 2026, một cột mốc lịch sử đã được thiết lập khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chính thức cấp giấy phép thành lập mới cho Ngân hàng Công nghiệp Hàn Quốc (IBK Vietnam), nâng tổng số ngân hàng con 100% vốn nước ngoài hoạt động hợp pháp tại Việt Nam lên con số 10 ngân hàng.

Đây là lần đầu tiên sau hơn 9 năm thắt chặt quản lý (kể từ khi cấp phép cho UOB Việt Nam vào năm 2017), Ngân hàng Nhà nước mới cấp phép thành lập mới một pháp nhân ngân hàng 100% vốn ngoại, cho thấy vị thế tài chính uy tín và chính sách mở cửa số hóa mạnh mẽ của Việt Nam.

Xem thêm: Dịch vụ thành lập công ty 100% vốn nước ngoài

Ngân hàng HSBC (Việt Nam)

Năm 1870 HSBC mở văn phòng đầu tiên tại Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh). Tháng Tám năm 1995, chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh được cấp phép hoạt động và cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính ngân hàng. HSBC khai trương chi nhánh thứ hai tại Hà Nội và thành lập văn phòng đại diện tại thành phố Cần Thơ vào năm 2005.

Ngày 1 tháng Một năm 2009, HSBC trở thành ngân hàng nước ngoài đầu tiên thành lập ngân hàng con tại Việt Nam. Ngân hàng TNHH một thành viên HSBC (Việt Nam) (HSBC Việt Nam) là một ngân hàng con thuộc sở hữu 100% của ngân hàng Hồng Kông và Thượng Hải. HSBC Việt Nam cũng là ngân hàng 100% vốn nước ngoài đầu tiên đồng thời đưa chi nhánh và phòng giao dịch đi vào hoạt động tại Việt Nam. Hiện tại, HSBC là một trong những ngân hàng nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam.

Với 150 năm kinh nghiệm hoạt động tại thị trường Việt Nam, HSBC cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính ngân hàng bao gồm: Dịch vụ Quản lý Tài sản và Tài chính Cá nhân, Dịch vụ Ngân hàng Doanh Nghiệp, Dịch vụ Ngoại hối và thị trường vốn, Dịch vụ Giải pháp Thanh toán Toàn cầu, Dịch vụ Thanh toán Quốc tế và Tài trợ thương mại, Ngoại hối, Thị trường vốn và Dịch vụ Chứng Khoán.

Ngân hàng Public Bank Việt Nam

Public Bank Vietnam (PBVN) là ngân hàng 100% vốn nước ngoài thuộc sở hữu của Public Bank Berhad, Malaysia, một trong những Ngân hàng hàng đầu Malaysia về kết quả hoạt động kinh doanh và quản trị bền vững, nhất quán. Public Bank Vietnam được chuyển đổi từ Ngân hàng liên doanh VID Public – một trong những ngân hàng liên doanh đầu tiên tại Việt Nam, được thành lập ngày 25 tháng 3 năm 1992 với tỷ lệ vốn góp 50:50 giữa Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Public Bank Berhad, Malaysia.

Trải qua 29 năm hoạt động hiệu quả tại Việt Nam, hiện nay Public Bank Vietnam đã mở rộng mạng lưới lên 32 chi nhánh và phòng giao dịch (PGD) tại các tỉnh và thành phố chính của Việt Nam.

Ngân hàng Shinhan Bank Việt Nam

Ngân hàng TNHH Một Thành Viên Shinhan Việt Nam hiện là một ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Shinhan Hàn Quốc.

Cho tới thời điểm hiện tại, Shinhan Bank chứng minh được quy mô và sự phát triển của mình bởi sở hữu mạng lưới vươn tới 20 nước trên khắp thế giới như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam,  Ấn Độ, Singapore, Hồng Kông, Úc, Anh, Mỹ, Canada, Trung Quốc…

Tại Việt Nam, vào năm 1993, Ngân hàng Shinhan Việt Nam đã có đại diện thương mại đầu tiên. Ngân hàng Shinhan Việt Nam đã mở rộng hoạt động tại các tỉnh trọng điểm thuộc miền Bắc, miền Trung và miền Nam Việt Nam sau 30 năm lựa chọn Việt Nam là một trong những tỉnh thành để phát triển.

Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam

Tại Việt Nam, lịch sử của Standard Chartered có thể bắt nguồn từ năm 1904, khi ngân hàng mở chi nhánh đầu tiên tại Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh). Ngân hàng Standard Chartered tin tưởng vào triển vọng lâu dài của Việt Nam và có cam kết mạnh mẽ với thị trường Việt Nam.

Ngày 01/08/2009, Ngân hàng TNHH Standard Chartered (Việt Nam), ngân hàng 100% vốn nước ngoài trực thuộc Ngân hàng Standard Chartered, chính thức khai trương hoạt động, đánh dấu cột mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của Ngân hàng Standard Chartered tại Việt Nam.

Hiện nay, Ngân hàng Standard Chartered Chi nhánh Việt Nam có 4 chi nhánh, trong đó có 2 chi nhánh Hà Nội và 2 chi nhánh TP.HCM. Trụ sở chính của ngân hàng ở Hà Nội. Ngân hàng mang chuyên môn và kinh nghiệm quốc tế ở Châu Á, Châu Phi và Trung Đông đến Việt Nam, góp phần phát triển ngành tài chính ngân hàng Việt Nam và hỗ trợ khách hàng phát triển hoạt động kinh doanh.

Ngân hàng cung cấp đầy đủ các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng cho các doanh nghiệp, tổ chức tài chính, doanh nghiệp vừa và nhỏ và khách hàng cá nhân. Standard Chartered cũng đóng vai trò tích cực trong cộng đồng người Việt và thể hiện điều này thông qua nhiều dự án hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội, tập trung vào các vấn đề sức khỏe, thanh thiếu niên và kiến ​​thức tài chính cơ bản.

Ngân hàng Hong Leong Bank

Hong Leong Bank Berhad là ngân hàng dịch vụ tài chính có trụ sở tại Malaysia với sự hiện diện thương mại ở các quốc gia khác bao gồm Singapore, Hồng Kông, Việt Nam, Campuchia và Trung Quốc.

Tháng 12/2008, Ngân hàng Hong Leong được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép thành lập Công ty TNHH Hong Leong Bank Việt Nam (Hong Leong Vietnam) tại Việt Nam, là ngân hàng 100% vốn nước ngoài đầu tiên của Việt Nam.

Kế thừa và phát huy phương châm, triết lý kinh doanh của ngân hàng mẹ, Hong Leong Việt Nam cung cấp đầy đủ các sản phẩm, dịch vụ tài chính cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, kết nối khách hàng với nhu cầu của khách hàng tiềm năng, thị trường tài chính trong nước và các đối tác tại Malaysia hoặc ở Singapore.

Ngân hàng Woori Việt Nam

Ngân hàng Woori xuất hiện lần đầu tiên tại Việt Nam vào năm 1997 cho đến năm 2017 thì thành lập pháp nhân chính thức với tên gọi Công ty TNHH Woori Bank Việt Nam (Woori Bank Việt Nam), có trụ sở chính tại Hà Nội. Sau nhiều năm phát triển và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, Woori Bank Việt Nam hiện là một trong những ngân hàng nước ngoài tốt nhất tại Việt Nam.

Năm 2020, Ngân hàng Woori Việt Nam được chấp thuận tăng tổng vốn đăng ký lên 7,7 nghìn tỷ đồng, trở thành ngân hàng có vốn đăng ký lớn nhất hệ thống ngân hàng nước ngoài của Việt Nam. Nhằm mang đến những giải pháp tài chính ưu việt cho người dùng, Woori Bank Việt Nam cung cấp chuỗi sản phẩm đa dạng, linh hoạt nhằm đáp ứng hiệu quả nhu cầu về vốn, tích lũy và quản lý tài chính của khách hàng cá nhân và doanh nghiệp.

Là ngân hàng có vốn nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, Woori Bank luôn không ngừng học hỏi, đổi mới, thấu hiểu khách hàng, tối ưu hóa sản phẩm, cải tiến dịch vụ và trở thành đối tác tài chính đáng tin cậy của mọi người và doanh nghiệp Việt Nam.

Ngân hàng Citibank Việt Nam

Citi Bank mở chi nhánh tại Việt Nam trước năm 1975 và quay trở lại Việt Nam năm 1993, thành lập văn phòng đại diện tại Hà Nội. Một năm sau, Citi Bank trở thành tổ chức tài chính Mỹ đầu tiên được cấp phép mở đầy đủ chi nhánh tại Hà Nội. Năm 1998, Citi Bank mở chi nhánh thứ hai tại TP.HCM. Citi Bank Việt Nam hiện cung cấp các dịch vụ ngân hàng tài chính như ngân hàng doanh nghiệp và đầu tư, quản lý dòng tiền và thanh toán quốc tế, ngân hàng thương mại, ngân hàng bán lẻ, dịch vụ chứng khoán và giao dịch chứng khoán.

UOB Việt Nam

UOB kết nối với thị trường Việt Nam từ năm 1993, khởi đầu là văn phòng đại diện chỉ có 3 nhân viên và hai năm sau trở thành ngân hàng Singapore đầu tiên mở chi nhánh tại Việt Nam. Hồ Chí Minh. Ngày 6/8/2018, UOB chính thức thành lập Ngân hàng 100% có vốn đầu tư nước ngoài UOB Việt Nam (UOB Việt Nam), đánh dấu cột mốc tiếp theo và mở ra một chương mới trong lịch sử của UOB tại Việt Nam.

Với hơn 500 nhân viên, UOB Việt Nam là ngân hàng con thứ năm của Tập đoàn UOB tại châu Á, thể hiện sự tin tưởng của Tập đoàn UOB đối với triển vọng của thị trường Việt Nam.

UOB Việt Nam cung cấp các dịch vụ tài chính cá nhân và doanh nghiệp cho cả khách hàng Việt Nam và nước ngoài. Thực hiện cam kết lâu dài trong việc cung cấp các dịch vụ và giải pháp tài chính tốt nhất cho khách hàng trên toàn quốc, chi nhánh Ngân hàng UOB đã được khai trương tại Hà Nội vào tháng 6 năm 2019 (chi nhánh đầu tiên bên ngoài trụ sở chính của chúng tôi tại Thành phố Hồ Chí Minh).

Với việc mở rộng sang khu vực phía Bắc và mạng lưới kết nối UOB rộng khắp trong khu vực, chúng tôi là người giỏi nhất trong việc kết nối khách hàng với các cơ hội kinh doanh tại Việt Nam và giúp các công ty Việt Nam nắm bắt cơ hội kinh doanh tại thị trường ASEAN và hơn thế nữa.

CIMB Việt Nam

Ngân hàng CIMB Việt Nam là chi nhánh của Tập đoàn CIMB, ngân hàng toàn cầu hàng đầu ASEAN với kinh nghiệm và chuyên môn phong phú trong khu vực. Công ty mẹ của Ngân hàng CIMB Việt Nam là một trong những ngân hàng đầu tư lớn nhất châu Á và cũng là một trong những ngân hàng Hồi giáo lớn nhất thế giới.

Ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài CIMB của Việt Nam có trụ sở chính tại Hà Nội và cung cấp nhiều sản phẩm và dịch vụ ngân hàng cho các cá nhân, doanh nghiệp và tập đoàn. Được xây dựng trên nền tảng vững mạnh của ASEAN, Ngân hàng CIMB Việt Nam cam kết cung cấp các dịch vụ đặc biệt nhằm giúp khách hàng xây dựng một tương lai tài chính vững mạnh và bền vững.

Ngân hàng CIMB Việt Nam không ngừng nỗ lực tạo ra cơ hội và giá trị gia tăng cho khách hàng thông qua các sản phẩm và dịch vụ sáng tạo, và đây là trọng tâm trong mọi hoạt động của chúng tôi. Ngân hàng CIMB Việt Nam tự hào là nhà cung cấp dịch vụ tài chính và đối tác kinh doanh thực sự, giúp khách hàng đưa ra những quyết định tài chính và đầu tư đúng đắn trong cuộc sống.

IBK Việt Nam

Ngân hàng Công nghiệp Hàn Quốc (IBK) bắt đầu hiện diện tại Việt Nam từ năm 2008 thông qua việc mở chi nhánh đầu tiên tại TP. Hồ Chí Minh, sau đó tiếp tục mở rộng quy mô với chi nhánh thứ hai tại Hà Nội vào năm 2013. Định hướng cốt lõi của IBK Vietnam là tập trung hỗ trợ tối đa cho phân khúc doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), với cam kết dành tới 75% nguồn vốn vay tập trung cho khu vực này.

Ngân hàng 100% vốn nước ngoài IBK Việt Nam đóng vai trò cầu nối tài chính vững chắc, cung cấp các giải pháp và dịch vụ tài chính toàn diện cho các doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư tại Việt Nam cũng như các doanh nghiệp SME của Việt Nam. IBK Vietnam được phép thực hiện đầy đủ các hoạt động tài chính, ngân hàng theo quy định, bao gồm:

Hoạt động huy động vốn và cấp tín dụng: Nhận tiền gửi, phát hành chứng chỉ tiền gửi; cấp tín dụng dưới các hình thức cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu, bảo lãnh ngân hàng, phát hành thẻ tín dụng, bao thanh toán trong nước và cung ứng nghiệp vụ thư tín dụng (L/C). Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng, cung ứng các phương tiện và dịch vụ thanh toán bao gồm séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, chuyển tiền, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ và chi hộ.

Thực hiện các giao dịch vay, cho vay, gửi tiền, nhận tiền gửi và mua, bán có kỳ hạn các giấy tờ có giá với các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Đặc biệt, vào ngày 30 tháng 7 năm 2026, Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng thuộc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định số 103/QĐ-QLGS1, chấp thuận bổ sung thêm hoạt động “mua nợ” vào Giấy phép hoạt động của IBK Vietnam, giúp đa dạng hóa danh mục dịch vụ xử lý tài chính của ngân hàng tại Việt Nam.

Liên hệ Công ty Luật Siglaw

Để được tư vấn pháp lý liên quan đến việc thành lập ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam xin quý khách vui lòng liên hệ công ty luật Siglaw tại:

Trụ sở chính tại Hà Nội: Số 44/A32–NV13, Khu A Geleximco, đường Lê Trọng Tấn, phường Tây Mỗ, thành phố Hà Nội.

Chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh: Số 103–105 đường Nguyễn Đình Chiểu, phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chi nhánh tại Đà Nẵng: VIFC DN – Tòa nhà ICT, Công viên Phần mềm số 2, đường Như Nguyệt, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Email: vp@siglaw.com.vn.

Hotline: 0961 366 238.

Facebook: https://www.facebook.com/hangluatSiglaw.

SIGLAW ĐỒNG HÀNH CÙNG HỆ SINH THÁI TÀI CHÍNH VIFC


Ngày 08/09/2026, Cơ quan Điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế tại thành phố Đà Nẵng (VIFC-DN) phối hợp với Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh Quốc (ACCA) tổ chức Diễn đàn tại thành phố Đà Nẵng, với chủ đề “Khung pháp lý, lĩnh vực, sản phẩm ưu tiên và cơ hội đầu tư tại VIFC-DN”. Sự kiện tập trung trao đổi về những định hướng trọng tâm trong quá trình xây dựng VIFC-DN, từ hoàn thiện khung pháp lý, phát triển các lĩnh vực và sản phẩm tài chính ưu tiên đến mở rộng cơ hội đầu tư và tăng cường kết nối với các tổ chức tài chính quốc tế.


Công ty Luật Siglaw vinh dự góp mặt tại Diễn đàn với tư cách là một trong những thành viên tại VIFC-DN, cùng cập nhật những định hướng mới về pháp lý, tài chính và đầu tư, đồng thời kết nối với các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp đang tham gia vào quá trình hình thành hệ sinh thái tài chính quốc tế tại Đà Nẵng.


Phát biểu tại hội thảo, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng Hồ Kỳ Minh nhấn mạnh định hướng phát triển VIFC-DN không chỉ dừng lại ở việc hình thành một địa điểm tập trung các tổ chức tài chính, mà hướng tới xây dựng một nền tảng có khả năng kết nối dòng vốn quốc tế với các cơ hội đầu tư tại Việt Nam.


Định hướng này đặt VIFC-DN trong mối liên hệ chặt chẽ giữa hệ thống tài chính quốc tế, nhu cầu huy động vốn và các lĩnh vực kinh tế có tiềm năng phát triển. Việc hình thành một môi trường tài chính có tính kết nối, minh bạch và phù hợp với thông lệ quốc tế được kỳ vọng sẽ tạo thêm điều kiện để các nhà đầu tư, tổ chức tài chính và doanh nghiệp tiếp cận những cơ hội hợp tác mới tại Việt Nam.


Bên cạnh đó, sự phát triển của VIFC-DN cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp lý, cơ chế vận hành và các sản phẩm tài chính phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Đây cũng là những nội dung được tập trung thảo luận trong các phiên chuyên đề của hội thảo.


1. Tăng cường hợp tác quốc tế thông qua lễ ký kết MOU giữa VIFC-DN và ACCA


Một trong những nội dung đáng chú ý tại sự kiện là Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ giữa Cơ quan Điều hành VIFC-DN và Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh Quốc (ACCA).


Việc ký kết Biên bản ghi nhớ đánh dấu thêm một bước trong quá trình tăng cường hợp tác giữa VIFC-DN và một tổ chức nghề nghiệp quốc tế có mạng lưới rộng trong lĩnh vực kế toán, tài chính và quản trị. Sự hợp tác này đồng thời mở ra thêm các cơ hội trao đổi chuyên môn, kết nối nguồn nhân lực và thúc đẩy các hoạt động phù hợp với định hướng phát triển của Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Đà Nẵng.


2. Đưa Đà Nẵng trở thành điểm đến cho các sáng kiến tài chính có khả năng mở rộng


Theo bà Helen Brand, OBE – Tổng Giám đốc ACCA, cam kết phát triển bền vững trong dài hạn, cùng với việc thúc đẩy chương trình nghị sự về ESG, đang ngày càng trở thành một yếu tố quan trọng trong việc thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư quốc tế. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đang nổi lên như một quốc gia có vai trò ngày càng đáng kể, đồng thời thể hiện định hướng và tầm nhìn dài hạn đối với phát triển bền vững. 


Theo đó, việc thúc đẩy các tiêu chuẩn và thực hành ESG không chỉ gắn với mục tiêu phát triển bền vững mà còn ngày càng có mối liên hệ chặt chẽ với khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế. Đối với doanh nghiệp, việc nâng cao tính minh bạch, quản trị hiệu quả và chú trọng đến các yếu tố môi trường, xã hội có thể trở thành một phần quan trọng trong quá trình đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của các nhà đầu tư và thị trường vốn quốc tế. 


Ông Kevin Bruce Iwanaga, Cố vấn cấp cao về Chiến lược, Cơ quan Điều hành VIFC-DN, chia sẻ về định hướng phát triển của Trung tâm và vai trò của Đà Nẵng trong việc thu hút, thử nghiệm và phát triển các sáng kiến tài chính mới.


Theo định hướng được chia sẻ tại sự kiện, mục tiêu là đưa Đà Nẵng trở thành một trong những điểm đến hàng đầu tại châu Á để biến các sáng kiến tài chính thành những mô hình kinh doanh có khả năng mở rộng.


Định hướng này cho thấy VIFC-DN được kỳ vọng không chỉ là nơi cung cấp các dịch vụ tài chính, mà còn là môi trường để các ý tưởng, sản phẩm và mô hình tài chính mới được nghiên cứu, phát triển và kết nối với thị trường. Qua đó, Trung tâm có thể đóng vai trò là cầu nối giữa các sáng kiến tài chính quốc tế và nhu cầu thực tế của nền kinh tế Việt Nam.


3. Tọa đàm: Khung pháp lý cho hoạt động tài chính và các lĩnh vực, sản phẩm ưu tiên tại VIFC


Một trong những nội dung trọng tâm của chương trình là Tọa đàm 01 về khung pháp lý cho hoạt động tài chính và các lĩnh vực, sản phẩm ưu tiên tại VIFC.

Khung pháp lý là một trong những nền tảng quan trọng đối với hoạt động của bất kỳ trung tâm tài chính quốc tế nào. Một hệ thống quy định rõ ràng, đồng bộ và có khả năng đáp ứng yêu cầu của các hoạt động tài chính hiện đại sẽ góp phần tạo lập môi trường thuận lợi cho các tổ chức tài chính, nhà đầu tư và doanh nghiệp tham gia thị trường.


Tại phiên tọa đàm, các đại biểu có cơ hội trao đổi về những vấn đề liên quan đến định hướng xây dựng khung pháp lý cho VIFC, đồng thời thảo luận về các lĩnh vực và sản phẩm tài chính được xác định là ưu tiên phát triển.


Đối với doanh nghiệp và nhà đầu tư, việc hiểu rõ định hướng chính sách cũng như phạm vi các hoạt động được ưu tiên tại VIFC-DN có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định cơ hội hợp tác, đầu tư và cung cấp dịch vụ trong thời gian tới. Đây cũng là cơ sở để các tổ chức tư vấn pháp lý, tài chính và doanh nghiệp chủ động chuẩn bị nguồn lực, mô hình hoạt động phù hợp với sự phát triển của Trung tâm.


4. Huy động nguồn vốn xanh quốc tế – từ thị trường carbon đến các nền tảng đầu tư bền vững 

Tiếp nối chương trình là Tọa đàm: “Huy động nguồn vốn xanh quốc tế thông qua VIFC – Thị trường carbon và các nền tảng đầu tư bền vững”.


Trong bối cảnh tài chính xanh và đầu tư bền vững ngày càng trở thành một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính quốc tế, việc phát triển các cơ chế huy động nguồn vốn xanh cũng là một trong những hướng đi đáng chú ý đối với VIFC-DN.


Phiên tọa đàm tập trung vào mối liên hệ giữa VIFC, thị trường carbon và các nền tảng đầu tư bền vững, qua đó đặt ra những vấn đề về khả năng kết nối nguồn vốn quốc tế với các dự án, doanh nghiệp và sáng kiến hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.


Đặc biệt, thị trường carbon và các công cụ tài chính xanh đang mở ra những hướng tiếp cận mới đối với hoạt động huy động vốn. Việc hình thành cơ chế phù hợp để kết nối các nguồn lực này với thị trường trong nước có thể tạo thêm không gian cho các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn quốc tế, đồng thời thúc đẩy các hoạt động đầu tư gắn với mục tiêu chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.


Siglaw – đồng hành cùng sự phát triển của hệ sinh thái tài chính tại VIFC-DN 


Việc tham dự hội thảo là cơ hội để Công ty Luật Siglaw cập nhật những định hướng mới nhất liên quan đến khung pháp lý, các lĩnh vực tài chính ưu tiên và cơ hội đầu tư tại VIFC-DN; đồng thời tăng cường kết nối với các cơ quan quản lý, tổ chức quốc tế, hiệp hội nghề nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp.


Là một trong những thành viên tại VIFC-DN, Siglaw tiếp tục theo dõi và đồng hành cùng quá trình hoàn thiện hệ sinh thái pháp lý và đầu tư tại Trung tâm, đặc biệt trong các lĩnh vực liên quan đến tài chính quốc tế, đầu tư, tài chính xanh và các mô hình kinh doanh mới.

📌 Quý khách hàng có nhu cầu được tư vấn pháp lý, xin liên hệ Công ty Luật Siglaw qua các kênh thông tin sau:

🏢Trụ sở chính tại Tp. Hà Nội: Số 44/A32 - NV13, Khu A Geleximco, Đường Lê Trọng Tấn, Phường Tây Mỗ, Tp.Hà Nội 🏤Chi nhánh tại miền Nam: Số 103 - 105, Đường Nguyễn Đình Chiểu, Phường Xuân Hòa, Hồ Chí Minh 🏤Chi nhánh miền Trung: VIFC DN - Tòa nhà ICT Công viên Phần mềm số 2, Đường Như Nguyệt, Phường Hải Châu, Đà Nẵng 📧Email: vp@siglaw.com.vn ☎️Hotline: 0961 366 238 🌐Website: https://siglaw.com.vn/ 📱Facebook: https://www.facebook.com/hangluatSiglaw



NGÀY 5: HỘI NGHỊ TRAO ĐỔI VỀ CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH

Ngày 11/09/2026, tại Khách sạn Courtyard by Marriott Danang Han River, Hội nghị Trao đổi về Chính sách và Phát triển các Công cụ Tài chính chính thức bước vào ngày làm việc cuối cùng, với chủ đề "Sàn giao dịch Thị trường Carbon và Bài học Kinh nghiệm cho Việt Nam".  Công ty Luật Siglaw vinh dự tiếp tục tham gia ngày làm việc này, hoàn thành trọn vẹn hành trình năm ngày đồng hành cùng Hội nghị.


1. Nguyên lý cơ bản và cơ hội của một dự án carbon

Mở đầu ngày làm việc, Tiến sĩ Kyle Holland - Sáng lập viên của Tổ chức eCarbon và Impact Inside - chia sẻ hai chuyên đề liên tiếp về nền tảng của dự án carbon: Điều gì tạo nên một dự án carbon thực chất, đáng tin cậy và có khả năng huy động vốn?

Tiến sĩ Kyle Holland phân tích sự khác biệt giữa hai hình thái tạo tín chỉ - Tránh mất mát và Loại bỏ chủ động - cùng những rủi ro thường gặp khi loại bỏ carbon bằng công nghệ. Một điểm then chốt được Tiến sĩ Kyle Holland nhấn mạnh nhiều lần: Tín chỉ carbon là một tuyên bố dựa trên kịch bản giả định, do đó tính bổ sung, tính lâu bền và một đường cơ sở đơn giản, đáng tin cậy mới là yếu tố quyết định giá trị thực sự của dự án - thay vì chỉ chạy theo số lượng tín chỉ phát hành.

Đáng chú ý, Tiến sĩ Kyle Holland đã dành riêng một phần để phân tích nhóm giải pháp loại bỏ carbon bằng công nghệ - như biochar, thu giữ và lưu trữ carbon sinh học (BECCS), phong hóa khoáng tăng cường (ERW) hay thu giữ khí trực tiếp từ không khí (DACCS). Theo Tiến sĩ, nhóm giải pháp này có đường cơ sở đơn giản và mức độ bổ sung rất cao vì gần như không phát sinh nếu không có dự án, nhưng đổi lại phải đối mặt với bài toán kinh tế khó khăn hơn nhiều: chi phí đầu tư lớn, chi phí năng lượng và nguyên liệu đầu vào cao, cùng trách nhiệm lưu trữ carbon lâu dài - những yếu tố mà nhà phát triển dự án cần cân nhắc kỹ trước khi lựa chọn công nghệ phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam.

Phần trình bày tiếp theo đặt dự án carbon trong bối cảnh thị trường năm 2026: Nhu cầu tuy vẫn tồn tại nhưng người mua ngày càng khắt khe, chỉ một tỷ lệ nhỏ các lượt hỏi mua chuyển thành giao dịch thực tế. Tiến sĩ Kyle Holland cập nhật lộ trình phát triển thị trường carbon của Việt Nam theo các quy định pháp luật hiện hành (Quyết định 232/QĐ-TTg và Nghị định 29/2026/NĐ-CP), cũng như cơ chế để kết nối Việt Nam với thị trường Singapore. Thông điệp xuyên suốt dành cho các đơn vị phát triển dự án tại Việt Nam là nên "thiết kế ngược lại từ thị trường" - tức xác định rõ nhu cầu của người mua trước khi bắt tay xây dựng dự án.

Đây cũng là nội dung có ý nghĩa thực tiễn cao đối với thị trường Việt Nam, khi ngày càng nhiều doanh nghiệp, chủ đầu tư trong nước quan tâm đến việc phát triển các dự án carbon: từ trồng rừng, nông nghiệp bền vững đến năng lượng tái tạo - nhưng còn thiếu thông tin về cách đánh giá tính khả thi và khả năng huy động vốn của một dự án trước khi triển khai.

Tiến sĩ Kyle Holland cũng nhấn mạnh vai trò của hoạt động đo lường, báo cáo và thẩm định (MRV) trong toàn bộ vòng đời dự án - từ khâu thiết lập đường cơ sở, xác định tính bổ sung, cho đến việc theo dõi rủi ro đảo ngược kết quả và trách nhiệm lưu trữ carbon lâu dài. Đối với các đơn vị phát triển dự án tại Việt Nam, đây là những tiêu chí then chốt cần được xây dựng ngay từ giai đoạn thiết kế dự án, thay vì bổ sung sau khi dự án đã đi vào vận hành.

Trước khi đầu tư nguồn lực vào tài liệu thiết kế dự án chính thức, Tiến sĩ Kyle Holland cũng giới thiệu một phương thức sàng lọc nhanh gồm 08 nhóm câu hỏi: định nghĩa dự án, luận điểm carbon, quy mô, quyền và các bên liên quan, phương pháp luận, bài toán thương mại, rủi ro chính và các nội dung cần thẩm định tiếp theo. Phương thức này giúp nhà phát triển dự án đưa ra một trong ba quyết định sớm: tiến hành nghiên cứu khả thi, thiết kế lại, hoặc dừng lại trước khi phát sinh thêm chi phí.

2. Xây dựng một sàn giao dịch carbon kỹ thuật số thành công

Tiếp nối Hội nghị vào buổi chiều, Ông Diego Soto-Eisenberg, đến từ Đại học Washington (Hoa Kỳ), mang đến chuyên đề về cách xây dựng một sàn giao dịch carbon kỹ thuật số thành công, với hai trụ cột: Nền tảng công nghệ và Hệ thống pháp luật.

Trên khía cạnh công nghệ, Ông Diego Soto-Eisenberg giới thiệu 5 chức năng cốt lõi mà một sàn giao dịch cần đảm nhiệm - từ đăng ký, lưu ký, khớp lệnh đến quyết toán và công bố dữ liệu thị trường - đồng thời so sánh bài toán chi phí giữa việc thuê nền tảng có sẵn và tự xây dựng từ đầu. Ông Diego Soto-Eisenberg đưa ra những con số cụ thể để minh họa cho lựa chọn chiến lược này: nếu thuê hoặc mua lại một nền tảng giao dịch có sẵn, chi phí sở hữu trong 5 năm dao động khoảng 17 - 33 triệu USD và có thể đi vào vận hành chỉ sau 6 - 12 tháng; trong khi tự xây dựng một sàn giao dịch từ đầu trên hạ tầng trong nước có thể tiêu tốn tới 52 triệu USD, mất 2 - 3 năm mới có giao dịch đầu tiên, và đòi hỏi duy trì đội ngũ trên 20 kỹ sư trong khi chưa chắc đã có sẵn nguồn cầu từ người mua. 

Góc nhìn so sánh chi phí giữa các phương án xây dựng sàn giao dịch là dữ liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan hoạch định chính sách tại Việt Nam trong giai đoạn hoàn thiện hạ tầng cho thị trường carbon trong nước lẫn quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh VIFC đang từng bước được định hình.

Trên khía cạnh pháp lý, chuyên đề đặt ra những câu hỏi nền tảng mà khung pháp luật Việt Nam cần trả lời: Tín chỉ carbon là tài sản gì? Quyền sở hữu được xác lập ra sao? Và khi nào một giao dịch carbon được xem là hoàn tất?

Một điểm thú vị được Ông Diego Soto-Eisenberg chia sẻ là sự tương đồng giữa việc bán tín chỉ carbon và bán tác phẩm nghệ thuật: tính độc đáo, tính riêng tư trong giao dịch và câu chuyện về nguồn gốc sản phẩm cũng có thể trở thành những yếu tố quyết định mức giá mà người mua sẵn sàng chi trả. Theo đó, một dự án carbon muốn bán được giá tốt cần biết kết hợp cả "lý trí" - các cơ chế đo lường, xác minh vững chắc, lẫn "trái tim" - một câu chuyện chân thực, dễ hiểu về lợi ích mà dự án mang lại cho cộng đồng.

Chuyên đề cũng phân tích sự khác biệt trong yêu cầu pháp lý giữa việc bán tín chỉ carbon trong nước (thị trường bắt buộc) và bán ra quốc tế (thị trường tự nguyện). Nếu như giao dịch trong nước có thể dựa vào cơ chế thanh tra, giám sát trực tiếp của cơ quan quản lý, thì giao dịch quốc tế đòi hỏi một bộ quy tắc pháp lý chặt chẽ hơn nhiều, như: quyền cấp phép xuất khẩu tín chỉ, cam kết không tính hai lần cho cùng một tấn carbon, và hệ thống đăng ký công khai mà nhà đầu tư nước ngoài cũng có thể tra cứu. Đây là những vấn đề mà khung pháp luật Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới để tín chỉ carbon trong nước được thị trường quốc tế công nhận và giao dịch với mức giá tương xứng.

3. Đưa Đà Nẵng trở thành trung tâm cho thị trường carbon liêm chính

Chuyên đề trực tuyến qua Zoom của diễn giả Cole Davis - Nhà sáng lập kiêm CEO Hanaper - mang đến góc nhìn tổng quan về hạ tầng công nghệ cho một thị trường carbon liêm chính. Diễn giả chỉ ra rằng phần lớn sai sót của tín chỉ carbon - như tính bổ sung bị thao túng hay sai lệch đường cơ sở - thường xảy ra trước khi tín chỉ được đưa lên sàn giao dịch, vì vậy công nghệ giao dịch nhanh hơn không thể khắc phục một tín chỉ có chất lượng kém ngay từ đầu.

Giải pháp mà diễn giả Cole Davis giới thiệu là "thông tin xác thực carbon" (carbon credential) - một mô hình vừa mang giá trị pháp lý, vừa là thông tin xác thực mã hóa gắn liền với từng tín chỉ, giúp bất kỳ người mua, đơn vị kiểm toán hay đối tác quốc tế nào cũng có thể tự mình xác minh mà không phụ thuộc vào một hệ thống đăng ký duy nhất. Đây được xem là lớp hạ tầng có thể phục vụ đồng thời cho cả thị trường carbon trong nước và thị trường quốc tế mà Trung tâm Tài chính Quốc tế Đà Nẵng đang hướng tới xây dựng.

Diễn giả Cole Davis mô tả cụ thể cấu trúc của một thông tin xác thực carbon: mỗi tín chỉ mang theo đầy đủ các lớp bằng chứng - chứng nhận tiêu chuẩn phát hành, nghiên cứu đường cơ sở, báo cáo của đơn vị thẩm định, dữ liệu giám sát vệ tinh, báo cáo kiểm toán xác minh và chữ ký số của đơn vị phát hành - được lưu giữ ngay bên trong tín chỉ thay vì nằm rải rác ở nhiều tài liệu khác nhau. Theo diễn giả, mọi khẳng định về một tín chỉ carbon đều có thể được truy ngược về đúng bên đã đưa ra khẳng định đó trong suốt vòng đời của tín chỉ: từ giai đoạn thiết kế, thẩm định, xác minh, đến khi phát hành, giao dịch và thu hồi. Qua đó giải quyết đúng “điểm nghẽn” về niềm tin mà các thế hệ công nghệ carbon số trước đó, như hệ thống đăng ký hay blockchain đơn thuần, vẫn chưa xử lý triệt để.

Chuyên đề cũng điểm qua một số tiền lệ quốc tế về nền tảng định danh mã hóa quy mô quốc gia đã vận hành thực tế - từ hệ thống định danh pháp nhân toàn cầu GLEIF, đến các mô hình cấp quốc gia và cấp bang tại Bhutan, Utah hay British Columbia (Canada) - cho thấy hướng đi công nghệ này không còn là lý thuyết mà đã có cơ sở triển khai trên thực tế, mở ra gợi ý tham khảo cho Việt Nam trong quá trình xây dựng hạ tầng số cho VIFC-DN.

Một nội dung đáng chú ý khác là bức tranh thể chế hiện tại của thị trường carbon Việt Nam: thị trường trong nước đã có sự phân công rõ ràng giữa các cơ quan quản lý theo Nghị định 29/2026/NĐ-CP, trong khi thị trường quốc tế tại VIFC-DN - nơi tín chỉ chất lượng cao của Việt Nam có thể bán được mức giá cao hơn - vẫn đang trong quá trình được thiết kế theo Nghị định 112/2026/NĐ-CP và cơ chế thử nghiệm (sandbox) tại Đà Nẵng. Diễn giả Cole Davis cho rằng lớp thông tin xác thực công nghệ có thể phục vụ đồng thời cho cả hai thị trường này, giúp tiết kiệm chi phí xây dựng hạ tầng và rút ngắn thời gian đưa VIFC-DN vào vận hành thực tế.

4. Tài chính khí hậu và Tài chính carbon

Trước khi khép lại khép lại Hội nghị, Giáo sư Xuan-Thao Nguyen - Giáo sư Luật mang học hàm Pendleton Miller và là Giám đốc Trung tâm Luật Châu Á, Đại học Washington - mang đến chuyên đề tổng kết về Tài chính Khí hậu và Tài chính carbon.

Mở đầu chuyên đề, Giáo sư Xuan-Thao Nguyen dẫn lại định nghĩa về Tài chính khí hậu được nhiều tổ chức quốc tế sử dụng: Tài chính khí hậu là nguồn lực tài chính hướng đến việc giảm phát thải, tăng cường khả năng hấp thụ khí nhà kính, đồng thời giảm thiểu tính dễ bị tổn thương và nâng cao khả năng phục hồi của hệ sinh thái và con người trước tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. 

Chuyên đề đưa ra bức tranh toàn cảnh: Tài chính khí hậu toàn cầu đã vượt mốc 2 nghìn tỷ USD, với 13 phương thức tài trợ khác nhau trải dài từ nguồn công đến nguồn tư. Nhóm nguồn công gồm quỹ công, tài trợ từ chính quyền các cấp, thị trường và thuế carbon, tài chính hỗn hợp công - tư, tài trợ phát triển đa phương, quỹ tổn thất và thiệt hại, cùng trái phiếu xanh - Nhóm nguồn tư bao gồm đầu tư tác động/ESG, tín dụng xanh, tài chính từ thiện, gọi vốn cộng đồng, mô hình thanh toán theo kết quả và bảo hiểm rủi ro khí hậu. Bức tranh đa dạng này cho thấy dư địa để Việt Nam tiếp cận nguồn vốn khí hậu quốc tế là rất lớn, nếu có khung pháp lý và công cụ tài chính phù hợp để kết nối.

Giáo sư Xuan-Thao Nguyen phân tích cách tín chỉ carbon có thể được sử dụng như một loại tài sản bảo đảm cho khoản vay hay hạn mức tín dụng - một hướng đi có thể mở rộng thêm công cụ huy động vốn cho các dự án carbon tại Việt Nam. Một ví dụ thực tiễn được chia sẻ là trái phiếu gắn với kết quả tái trồng rừng Amazon do Ngân hàng Thế giới phát hành, trong đó một phần lợi tức của nhà đầu tư được neo trực tiếp vào lượng tín chỉ carbon xác minh được - minh chứng sống động cho việc tài chính khí hậu không còn là khái niệm trừu tượng mà đã trở thành sản phẩm tài chính có thể giao dịch trên thị trường vốn quốc tế.

Chuyên đề cũng dành thời lượng phân tích các phương thức để một quyền bảo đảm bằng tín chỉ carbon phát sinh hiệu lực và có hiệu lực đối kháng với bên thứ ba - thông qua chiếm giữ, đăng ký thông báo tài trợ, hay kiểm soát tài sản bảo đảm, kể cả với tín chỉ carbon tồn tại dưới dạng token trên chuỗi (on-chain). Đây là nội dung mang tính kỹ thuật pháp lý cao, nhưng lại có ý nghĩa thực tiễn rõ rệt: Một khi tín chỉ carbon được thừa nhận rộng rãi là tài sản có thể dùng bảo đảm, các doanh nghiệp phát triển dự án carbon tại Việt Nam sẽ có thêm một kênh huy động vốn mới, bên cạnh việc bán tín chỉ trực tiếp trên thị trường.

Khép lại ngày làm việc thứ năm

Ngày làm việc thứ năm mang tới tính thời sự và ứng dụng rất cao của Hội nghị, cho thấy cách một loại tài sản mới - tín chỉ carbon - có thể được thiết kế, giao dịch, bảo đảm và xác thực trong khuôn khổ pháp luật, để từ đó trở thành một công cụ tài chính thực thụ chứ không chỉ dừng lại ở cam kết môi trường. 

Là thành viên của Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Đà Nẵng (VIFC-DN), Công ty Luật Siglaw vinh dự đồng hành cùng Hội nghị trong suốt năm ngày làm việc, từ phiên khai mạc đến phiên bế mạc. Việc trực tiếp tham dự, lắng nghe và cập nhật những nội dung chuyên sâu từ các chuyên gia, tổ chức tài chính hàng đầu trong nước và quốc tế không chỉ giúp đội ngũ Siglaw mở rộng vốn kiến thức chuyên môn, mà còn là cơ hội để nhìn nhận rõ hơn xu hướng pháp lý và tài chính mà Việt Nam sẽ theo đuổi.

Khép lại Hội nghị "Trao đổi về Chính sách và Phát triển các Công cụ Tài chính" năm 2026, Công ty Luật Siglaw trân trọng cảm ơn Cơ quan điều hành VIFC-DN, Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) cùng toàn thể diễn giả, đại biểu đã mang đến một chương trình làm việc chất lượng và giàu giá trị thực tiễn. Đây sẽ là nền tảng để Siglaw tiếp tục đồng hành cùng các hoạt động kết nối, chia sẻ chuyên môn trong thời gian tới, hướng tới mục tiêu chung: Xây dựng một Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Đà Nẵng minh bạch, hiện đại và đủ sức cạnh tranh trong khu vực.

Liên hệ Công ty Luật Siglaw

Trụ sở chính tại Hà Nội: Số 44/A32–NV13, Khu A Geleximco, đường Lê Trọng Tấn, phường Tây Mỗ, thành phố Hà Nội. Chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh: Số 103–105 đường Nguyễn Đình Chiểu, phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh. Chi nhánh tại Đà Nẵng: VIFC DN – Tòa nhà ICT, Công viên Phần mềm số 2, đường Như Nguyệt, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Email: vp@siglaw.com.vn. Hotline: 0961 366 238. Facebook: https://www.facebook.com/hangluatSiglaw.


NGÀY 4: HỘI NGHỊ CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH

Ngày 10/09/2026, tại Khách sạn Courtyard by Marriott Danang Han River, Thành phố Đà Nẵng, Hội nghị Trao đổi về Chính sách và Phát triển các Công cụ Tài chính bước sang ngày làm việc thứ tư với chủ đề “Thị trường Carbon Toàn cầu, Tính Toàn vẹn và Các Nghiên cứu Điển hình Khu vực”.

Công ty Luật Siglaw vinh dự tiếp tục đồng hành cùng Hội nghị trong ngày làm việc thứ tư, qua đó có cơ hội trực tiếp lắng nghe những trao đổi chuyên sâu từ các chuyên gia hàng đầu về thị trường carbon quốc tế – một trong những trụ cột quan trọng của tài chính xanh và tài chính khí hậu toàn cầu.

Hành trình hơn nửa thế kỷ của tín chỉ carbon

Mở đầu ngày làm việc thứ tư là chuyên đề “Các loại tín chỉ carbon và mô hình thị trường carbon trên thế giới” do Ông Kai Zhao, đến từ Đại học Washington (Hoa Kỳ), trình bày. Chuyên đề quay ngược về giai đoạn 1960 – 1990, thời điểm mà khái niệm về sự “ô nhiễm” lần đầu tiên được nhìn nhận như một loại tài sản có thể mua bán, đặt nền móng pháp lý và thị trường đầu tiên cho khái niệm “tín chỉ carbon” sau này.

Diễn giả Kai Zhao nhấn mạnh dấu mốc quan trọng vào năm 1997, khi Nghị định thư Kyoto được thông qua và trở thành hiệp ước quốc tế đầu tiên tạo ra các đơn vị carbon có thể giao dịch xuyên biên giới. Bên cạnh những thành tựu, chuyên đề cũng thẳng thắn chỉ ra ba thách thức lớn mà cơ chế của Nghị định thư Kyoto từng đối mặt trong thực tiễn:

  • Việc chứng minh tính bổ sung (rằng dự án thực sự không thể xảy ra nếu thiếu tín chỉ) luôn mang tính chủ quan;
  • Một số loại tín chỉ, như tín chỉ tiêu hủy khí HFC-23, vô tình tạo ra động cơ khuyến khích ngược có lợi cho việc duy trì phát thải;
  • Tại một số quốc gia, việc tự phát hành tín chỉ thiếu sự giám sát độc lập cần thiết.

Từ những bài học và kinh nghiệm của Nghị định thư Kyoto, ông Kai Zhao khép lại chuyên đề bằng việc dẫn dắt tới Thỏa thuận Paris năm 2015 – một bước phát triển quan trọng trong khuôn khổ hợp tác quốc tế về biến đổi khí hậu.

Nếu Kyoto đặt nền móng cho các cơ chế thị trường carbon quốc tế, thì Thỏa thuận Paris mở rộng khuôn khổ này trên cơ sở sự tham gia của các quốc gia thông qua các Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDCs). Điều này đặ tạo cơ sở cho các hình thức hợp tác quốc tế mới, qua đó mở ra một giai đoạn mới cho thị trường carbon toàn cầu.

Ngày 4: Hội nghị Chính sách và Phát triển các Công cụ Tài chính
Ngày 4: Hội nghị Chính sách và Phát triển các Công cụ Tài chính

Xem thêm: Chuyển dữ liệu cá nhân xuyên biên giới

Tín chỉ carbon dưới góc độ pháp lý và tài chính

Tiếp nối Hội nghị, Bà Jasmin Bolte từ Đại học Washington (Hoa Kỳ), trình bày chuyên đề “Tín chỉ Carbon dưới góc độ Pháp lý và Tài chính: Tài sản, Hàng hóa, Chứng khoán và Tài sản Kỹ thuật số”.

Chuyên đề đưa ra một trong những vấn đề cốt lõi mà các nhà lập pháp trên thế giới vẫn đang tiếp tục tranh luận: về bản chất pháp lý, tín chỉ carbon nên được xếp vào loại tài sản vô hình thông thường, hàng hóa có thể giao dịch trên sàn, một loại chứng khoán chịu sự điều chỉnh của pháp luật, hay một dạng tài sản kỹ thuật số gắn với công nghệ token hóa.

Chuyên đề phân tích cách các mô hình phân loại pháp lý khác nhau sẽ kéo theo những hệ quả khác nhau về quyền sở hữu, nghĩa vụ công bố thông tin, cơ chế chuyển nhượng và mức độ bảo vệ nhà đầu tư.

Diễn giả Jasmin Bolte cũng chỉ ra rằng các vấn đề về quyền sở hữu tín chỉ carbon thường phát sinh ở nhiều giai đoạn khác nhau trong vòng đời của một dự án – từ khi hình thành, đăng ký, phát hành cho đến khi giao dịch trên thị trường – và việc thiết kế một khung pháp lý rõ ràng ngay từ đầu chính là chìa khóa để tín chỉ carbon có thể đạt được tính thanh khoản cần thiết, thu hút dòng vốn đầu tư dài hạn.

Đối với Việt Nam, đây là nội dung có ý nghĩa tham chiếu trực tiếp trong quá trình xây dựng khung pháp lý cho thị trường carbon trong nước, khi việc lựa chọn một mô hình phân loại pháp lý phù hợp sẽ quyết định phần lớn cách thức vận hành, giám sát và bảo vệ quyền lợi các bên tham gia thị trường sau này.

Chống “tẩy xanh” và bảo vệ tính toàn vẹn của thị trường

Một trong những chuyên đề nhận được sự quan tâm đặc biệt trong buổi sáng là chuyên đề của Bà Nelly Muyia (Đại học Washington, Hoa Kỳ) về “Phòng chống Hành vi Tẩy xanh (Greenwashing) và Đảm bảo Tính Toàn vẹn Cao trong Vòng đời của Tín chỉ Carbon”.

Trong bối cảnh ngày càng nhiều doanh nghiệp trên thế giới đưa ra các cam kết về khí hậu, nguy cơ “tẩy xanh” – tức phóng đại hoặc làm sai lệch mức độ đóng góp thực sự cho môi trường – đang trở thành mối lo ngại lớn đối với cả nhà đầu tư, cơ quan quản lý và người tiêu dùng.

Chuyên đề đi sâu phân tích toàn bộ vòng đời của một tín chỉ carbon, từ giai đoạn thiết kế dự án, xây dựng và phê duyệt tiêu chuẩn đo lường, cho đến khâu thẩm định, phát hành và giám sát sau khi tín chỉ được đưa vào lưu thông.

Trên cơ sở đó, Bà Nelly Muyia đưa ra một loạt khuyến nghị thiết thực nhằm nâng cao tính toàn vẹn của thị trường, bao gồm việc tăng cường vai trò của các tổ chức thẩm tra độc lập, minh bạch hóa thông tin về phương pháp luận tính toán, và siết chặt cơ chế hậu kiểm để kịp thời phát hiện, xử lý các dự án không đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng.

Cấu trúc vận hành của thị trường giao dịch carbon

Khép lại phiên làm việc buổi sáng, ông Diego Soto-Eisenberg (Đại học Washington, Hoa Kỳ) nói về chuyên đề “Cấu trúc Thị trường Giao dịch Carbon: Hợp đồng Song phương về Carbon, các Sàn Giao dịch Địa phương, Quốc gia và Toàn cầu”.

Chuyên đề phân tích hai hình thái chính của thị trường giao dịch carbon hiện nay: thị trường phi tập trung (over-the-counter – OTC), nơi các giao dịch song phương được thực hiện trực tiếp giữa các bên; và các sàn giao dịch tập trung có tổ chức, nơi tín chỉ carbon được niêm yết và giao dịch theo cơ chế chuẩn hóa.

Diễn giả giới thiệu một số nền tảng giao dịch tiêu biểu trên thế giới như Xpansiv và AirCarbon, đồng thời phân tích ưu và nhược điểm của từng mô hình thị trường: trong khi thị trường OTC mang lại sự linh hoạt cao trong đàm phán hợp đồng, thì các sàn giao dịch tập trung lại có ưu thế về tính minh bạch giá và khả năng chuẩn hóa sản phẩm.

Một nội dung đáng chú ý khác là xu hướng token hóa tài sản carbon – tức số hóa tín chỉ carbon thành các đơn vị có thể giao dịch trên nền tảng công nghệ blockchain – cùng những đòi hỏi về khung pháp lý mà xu hướng này đặt ra. Đây là gợi ý thực tiễn đáng cân nhắc đối với định hướng phát triển sàn giao dịch carbon kỹ thuật số mà Việt Nam đang nghiên cứu xây dựng.

Quy định pháp luật Việt Nam về tín chỉ carbon và

khuyến nghị cho VIFC

Sau giờ nghỉ trưa, Hội nghị tiếp tục với phần trình bày của ông Nguyễn Phương Nam, Nhà sáng lập kiêm Giám đốc điều hành KLINOVA Climate Innovation Consulting & Services, với chuyên đề “Quy định Pháp luật hiện hành của Việt Nam về Thị trường Carbon và Khuyến nghị đối với VIFC”. Chuyên đề của ông mang đến những góc nhìn thực tiễn gắn liền trực tiếp với bối cảnh pháp lý và định hướng phát triển thị trường carbon tại Việt Nam.

Chuyên đề điểm lại khung pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến tín chỉ carbon và thị trường carbon trong nước, đồng thời đưa ra các khuyến nghị cụ thể cho Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Đà Nẵng (VIFC-DN) trong quá trình xây dựng cơ chế, chính sách nhằm thu hút và vận hành hiệu quả các hoạt động tài chính carbon.

Xem thêm: Quy chế hoạt động của VIFC

Kinh nghiệm vận hành thị trường carbon California

Bà Isabella Carreno từ Đại học Washington, mang đến một nghiên cứu điển hình giàu giá trị thực tiễn: Chương trình “Cap-and-Trade” của bang California (Hoa Kỳ) – nay được đổi tên thành “Cap-and-Invest” và vừa được gia hạn hoạt động đến năm 2045. Đây là một trong những thị trường carbon bắt buộc lâu đời, có quy mô lớn và được đánh giá là vận hành hiệu quả bậc nhất thế giới.

Chuyên đề phân tích chi tiết cơ chế vận hành của chương trình: từ việc thiết lập mức trần phát thải giảm dần theo thời gian, cấp phát hạn ngạch miễn phí có tính toán dựa trên hệ số định mức hiệu suất phát thải, đến vai trò của các chủ thể tham gia giám sát thị trường như Monitoring Analytics và Western Climate Initiative, cùng hệ thống theo dõi tuân thủ CITSS.

Đáng chú ý, California còn xây dựng cơ chế liên kết thị trường với bang Quebec (Canada) nhằm dùng chung bể hạn ngạch đấu giá, qua đó tăng hiệu quả vận hành và hạn chế nguy cơ thao túng thị trường.

Bên cạnh khía cạnh “giới hạn” phát thải, chương trình còn nhấn mạnh khía cạnh “đầu tư” khi nguồn thu từ đấu giá được tái đầu tư trở lại cho các chương trình khí hậu phục vụ cộng đồng – một mô hình cân bằng giữa kỷ luật thị trường và trách nhiệm xã hội mà nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, có thể tham khảo.

Kinh nghiệm phát triển tài chính carbon tại Trung Quốc,

Ấn Độ, Hàn Quốc, Đông Nam Á và Colombia

Một diễn giả khác từ Đại học Washington, Bà Betty Yu  mang tới chuyên đề “Kinh nghiệm từ Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Đông Nam Á và Colombia trong việc Xây dựng và Vận hành các Giải pháp Tài chính Carbon”.

Chuyên đề chỉ ra một nghịch lý cốt lõi của thị trường carbon tự nguyện hiện nay: do các quốc gia sở tại có xu hướng ưu tiên giữ lại những nỗ lực giảm phát thải hiệu quả nhất để phục vụ mục tiêu quốc gia, nguồn cung tín chỉ carbon mới và đáng tin cậy trên thị trường quốc tế ngày càng trở nên khan hiếm và đắt giá.

Từ nghịch lý đó, diễn giả Betty Yu giới thiệu các bài học xây dựng thị trường từ nhiều quốc gia:

  • Colombia – quốc gia tiên phong với các dự án dựa vào tự nhiên, nơi nhu cầu thị trường được tạo ra thông qua chính sách thuế, dù từng trải qua giai đoạn tranh cãi trước khi đạt được sự đồng thuận vững chắc hơn;
  • Hàn Quốc – nền kinh tế công nghiệp phát thải cao đã biến chính công nghệ khử carbon của mình thành lợi thế cạnh tranh trên thị trường tự nguyện toàn cầu, đồng thời chuyển dịch trọng tâm từ giảm phát thải sang loại bỏ carbon.

Tại khu vực Đông Nam Á, ba câu chuyện được nhắc đến gồm: Indonesia với tiềm năng tín chỉ khổng lồ, ước tính khoảng 13,4 tỷ tấn CO₂ tương đương, có thể đóng góp tới 60% mục tiêu giảm nhẹ phát thải quốc gia;

Campuchia với những bài học kinh nghiệm quý giá rút ra từ một dự án tiêu biểu, giúp các quốc gia đi sau tiết kiệm đáng kể chi phí học hỏi; và Singapore – quốc gia không có nhiều dư địa bù trừ trong nước nhưng đã vươn lên trở thành một trung tâm khu vực chỉ trong chưa đầy ba năm, nhờ chiến lược đưa yếu tố nhu cầu và tính toàn vẹn vào ngay trong chính sách.

Cuối cùng, câu chuyện của Ấn Độ cho thấy một quốc gia hoàn toàn có thể trở thành nhà cung cấp dịch vụ loại bỏ carbon quan trọng trên phạm vi toàn cầu, ngay cả khi thị trường nội địa chưa thực sự trưởng thành, nếu biết tận dụng đúng lợi thế nguồn lực và xây dựng quan hệ với các bên mua tiên phong phù hợp.

Kinh nghiệm tài chính carbon và tài chính khí hậu tại

Trung Quốc

Trước khi khép lại ngày làm việc thứ tư, Ông Hiro Fu (Đại học Washington và Trung tâm Luật thuộc Đại học Georgetown, Hoa Kỳ) mang đến Hội nghị những kinh nghiệm về Tài chính Carbon và Tài chính khí hậu tại Trung Quốc.

Dưới quan điểm của mình, Ông Hiro Fu cho rằng Trung Quốc khó có khả năng giành lại vị thế cao trên thị trường tín chỉ carbon quốc tế như đã từng có trước năm 2012, do ba thay đổi mang tính cấu trúc: thị trường carbon toàn cầu ngày càng phân mảnh, Trung Quốc chuyển hướng trọng tâm sang phát triển thị trường carbon nội địa, và những quan ngại kéo dài về công tác kiểm toán, quản trị dự án.

Ông Hiro Fu tái hiện hành trình của Trung Quốc qua các dấu mốc cụ thể: năm 2007, Trung Quốc chính thức thể chế hóa tài chính carbon với sự ra đời của Quỹ Cơ chế Phát triển Sạch (China CDM Fund); đến năm 2012, nước này đạt vị thế thống trị thị trường CDM quốc tế với khoảng 3.000 trong tổng số 5.500 dự án toàn cầu.

Tuy nhiên, đến năm 2017, Trung Quốc đã phải đình chỉ việc đăng ký các dự án CCER do khối lượng giao dịch thấp, mất cân bằng cung – cầu và công tác kiểm định chưa được chuẩn hóa. Bước ngoặt quan trọng diễn ra vào năm 2021, khi Trung Quốc chính thức ra mắt hệ thống giao dịch phát thải (ETS) quốc gia, điều chỉnh khoảng 4,5 tỷ tấn CO₂ phát thải mỗi năm và trở thành ETS lớn nhất thế giới xét theo quy mô phát thải được điều chỉnh.

Chuyên đề cũng không né tránh những vấn đề tồn đọng: năm 2024 ghi nhận một vụ bê bối gian lận tín chỉ carbon trị giá hàng tỷ euro tại Trung Quốc, dẫn đến việc hệ thống cấp tín chỉ UER bị bãi bỏ trước thời hạn; sang năm 2025, tổ chức tiêu chuẩn quốc tế Verra đã quyết định thu hồi rất nhiều dự án tại Trung Quốc sau khi tiến hành rà soát trên diện rộng.

Từ hành trình của Trung Quốc, diễn giả Hiro Fu đúc kết ba bài học lớn cho bất kỳ quốc gia nào đang xây dựng thị trường carbon: tầm quan trọng của kiểm toán và quản trị dự án minh bạch, sự cần thiết phải thích ứng với biến động của thị trường quốc tế, và vai trò quyết định của năng lực quản lý nhà nước trong việc duy trì niềm tin thị trường.

Xem thêm:

Khép lại ngày làm việc thứ tư

Xuyên suốt ngày làm việc thứ tư, Hội nghị đã mang đến một bức tranh toàn diện về thị trường carbon toàn cầu – từ nền tảng lịch sử và pháp lý, cơ chế đảm bảo tính toàn vẹn, cấu trúc vận hành của các sàn giao dịch, cho đến những bài học thực tiễn phong phú từ California, Trung Quốc và nhiều thị trường mới nổi tại châu Á, châu Mỹ Latinh.

Những chuyên đề không chỉ phản ánh sự trưởng thành và cả những thách thức của thị trường carbon quốc tế trong hơn năm thập kỷ qua, mà còn mở ra nhiều gợi ý thiết thực trong quá trình nghiên cứu, xây dựng khung pháp lý và hạ tầng vận hành cho thị trường carbon trong nước, gắn liền với định hướng phát triển Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Đà Nẵng.

Là thành viên của Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Đà Nẵng (VIFC-DN), Công ty Luật Siglaw tiếp tục vinh dự tham dự và đồng hành cùng các hoạt động trao đổi, kết nối chuyên môn trong khuôn khổ Hội nghị “Trao đổi về Chính sách và Phát triển các Công cụ Tài chính”.

Việc trực tiếp lắng nghe những chia sẻ chuyên sâu từ các chuyên gia, học giả và diễn giả hàng đầu về thị trường carbon quốc tế là cơ hội quý giá để công ty luật Siglaw không ngừng cập nhật những xu hướng chính sách và pháp lý mới nhất, làm giàu thêm góc nhìn thực tiễn phục vụ hoạt động tư vấn pháp lý trong các lĩnh vực đầu tư, tài chính xanh và phát triển bền vững.

Trụ sở chính tại Tp. Hà Nội: Số 44/A32 – NV13, Khu A Geleximco, Đường Lê Trọng Tấn, Phường Tây Mỗ, Tp. Hà Nội.

Chi nhánh tại miền Nam: Số 103 – 105, Đường Nguyễn Đình Chiểu, Phường Xuân Hòa, Hồ Chí Minh.

Chi nhánh miền Trung: VIFC DN – Tòa nhà ICT Công viên Phần mềm số 2, Đường Như Nguyệt, Phường Hải Châu, Đà Nẵng

Email: vp@siglaw.com.vn

Hotline: 0961 366 238

Facebook: https://www.facebook.com/hangluatSiglaw

DANH SÁCH NGÂN HÀNG 100% VỐN NƯỚC NGOÀI ĐƯỢC THÀNH LẬP TẠI VIỆT NAM

Ngân hàng 100% vốn nước ngoài được thành lập tại Việt Nam và được sở hữu bởi 100% vốn đầu tư nước ngoài mà trong đó yêu cầu có một ngân hàng...